Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN ĐÀN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn DIỄN ĐÀN. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 10 tháng 1, 2021

INDONESIA: ĐÃ TÌM THẤY CÁC MẢNH VỠ CỦA MÁY BAY BỊ MẤT LIÊN LẠC

 Theo Tân Hoa xã, máy bay của hãng hàng không Sriwijaya Air (Indonesia) mất liên lạc chiều 9/1 đã được xác nhận rơi xuống vùng biển của nước này.

Truyền hình địa phương dẫn lời Thuyền trưởng EKo Surya Hadi, chỉ huy tàu tuần duyên Trisula, thông báo họ đã tìm thấy các bộ phận thi thể người và mảnh vỡ của máy bay nói trên.
CNN cho biết địa điểm máy bay rơi là quần đảo Thousands ở vùng biển phía Bắc Jakarta.
Trước đó, máy bay mang số hiệu SJ182 của hãng hàng không Sriwijaya Air (Indonesia) đã mất liên lạc với trạm kiểm soát không lưu ít phút sau khi cất cánh từ thủ đô Jakarta để tới thành phố Pontianak ở tỉnh West Kalimantan. Metro TV cho biết vào thời điểm này, trên máy bay có 56 người, trong đó có 7 trẻ em và phi hành đoàn 6 người.
Dữ liệu của ứng dụng theo dõi các chuyến bay FlightRadar24 cho biết máy bay này thuộc dòng Boeing 737-500. Theo dữ liệu, 4 phút sau khi cất cánh, máy bay này "đã mất độ cao hơn 10.000 feet (khoảng 3.000 m) trong chưa đầy 1 phút". Được biết máy bay này đã hoạt động 27 năm./.
TTXVN
Hình ảnh có thể có: máy bay, bầu trời, đám mây và ngoài trời

Chủ Nhật, 6 tháng 12, 2020

TẦM QUAN TRỌNG CỦA BIỂN, ĐẢO VIỆT NAM TRONG TÌNH HÌNH MỚI

 <Sự Thật>

Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng, ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó”. Khẳng định của Người không chỉ thôi thúc cả dân tộc quyết tâm đánh bại đế quốc và tay sai, giải phóng dân tộc mà còn đặt trách nhiệm cho các thế hệ người Việt Nam phải biết chăm lo phát huy lợi thế và bảo vệ vững chắc vùng trời, biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Vì vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng và xây dựng phát triển đất nước, Đảng ta luôn quan tâm đến việc phát huy lợi thế về biển, kết hợp với phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam.
Việt Nam là quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của Biển Đông, có địa chính trị và địa kinh tế rất quan trọng không phải bất kỳ quốc gia nào cũng có. Với bờ biển dài trên 3.260 km trải dài từ Bắc xuống Nam, đứng thứ 27 trong số 157 quốc gia ven biển, các quốc đảo và các lãnh thổ trên thế giới. Chỉ số chiều dài bờ biển trên diện tích đất liền của nước ta là xấp xỉ 0,01. Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển.
Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển 1982 được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, được nhiều quốc gia ký kết và tham gia, Công ước Luật biển 1982 thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, có tính đến lợi ích của tất cả các nước trên thế giới, dù là nước công nghiệp phát triển hay là nước đang phát triển…


Để giữ vững chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của tổ quốc, mỗi người dân Việt Nam chúng ta phải phát huy tinh thần đoàn kết, gắn bó một lòng, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều hành thống nhất của Nhà nước, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán, toàn vẹn vùng biển nói riêng và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc nói chung. Góp phần thực hiện mục tiêu xây dựng nước ta thực sự trở thành một quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, mở ra triển vọng thúc đẩy sự hợp tác quốc tế giữa Việt Nam và các nước trên thế giới, các nước trong khu vực, xây dựng một cộng đồng nhiều quốc gia hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và thịnh vượng đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước; góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Trung ương 8 khóa XI của Đảng về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”./.

Thứ Ba, 5 tháng 5, 2020

Chủ động, tích cực tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội để Việt Nam “đi tắt, đón đầu” trong chiến lược phát triển

 Ngày 27-9-2019, Bộ Chính trị ra Nghị quyết 52-NQ/TW về chủ trương, chính sách chủ động, tích cực tham gia Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0). Với 4 quan điểm chỉ đạo, 3 mục tiêu tổng quát, 11 mục tiêu cụ thể và 8 chủ trương, chính sách..., Văn kiện đã đưa ra quyết tâm chiến lược của toàn Đảng, toàn dân ta là: Nắm bắt cơ hội, vượt qua thách thức; phát triển nhanh và bền vững, đưa Việt Nam vào TOP các quốc gia sáng tạo; có nguồn nhân lực và chất lượng cuộc sống cao, trở thành quốc gia thịnh vượng, hạnh phúc khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước (2045). 
Chủ động, tích cực tham gia Cách mạng công nghiệp 4.0 - Cơ hội để Việt Nam “đi tắt, đón đầu” trong chiến lược phát triển
(Nguồn:techtimes.vn)
Từ khóa: Cách mạng công nghiệp 4.0, “đi tắt, đón đầu”; quốc gia sáng tạo.
1. Thời cơ và thách thức
Đảng ta nhận định: “Cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 mở ra nhiều cơ hội, đồng thời cũng đặt ra nhiều thách thức đối với mỗi quốc gia, tổ chức và cá nhân; đã và đang tác động ngày càng mạnh mẽ đến tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội đất nước”(1); tạo cho Việt Nam có đột phá về năng suất lao động nói chung, nhất là các ngành công nghiệp lớn, mũi nhọn như: điện tử, hóa chất, dầu khí, hàng tiêu dùng, thực phẩm, dược phẩm và công nghiệp giải trí. Quan trọng hơn, đây là cơ hội để Việt Nam “đi tắt, đón đầu” trong sự nghiệp phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Bởi CMCN 4.0 tạo ra cho Việt Nam 2 điều kiện cần và đủ để vượt qua các giai đoạn phát triển theo mô hình truyền thống. Nhờ internet vạn vật (IoT), mạng 5G; trí thông minh nhân tạo (AI), thiết bị không người lái; công nghệ in 3D, thực tế ảo (VR), fantech, blockchain, nano, sinh học; vật liệu, năng lượng mới; tin học lượng tử, robot hóa, tự động hóa... việc nâng cao năng suất lao động, hiệu quả sử dụng nguồn lực và tài nguyên không giới hạn.
Với CMCN 4.0, nhiều người dân Việt Nam, nhất là thế hệ trẻ có thể khởi nghiệp, sáng tạo, tiếp cận các nguồn lực, thông tin, tri thức và thị trường mới. Môi trường siêu kết nối cũng tạo nên cuộc cách mạng về giao dịch, thanh toán, logistic, đồng thời giúp các doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và giá trị toàn cầu.
CMCN 4.0 giúp Việt Nam thay đổi mô hình kinh doanh, kinh tế - xã hội một cách cơ bản và mang tính đột phá, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động với sức cạnh tranh cao, bảo đảm tăng trưởng nhanh và bền vững. Đồng thời, cho phép các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát huy ý tưởng mới, tạo ra hệ sinh thái doanh nhân và sáng tạo.
Việt Nam còn có cơ hội “bình đẳng” với các nước, kể cả các nước phát triển về công nghệ. Bởi Việt Nam có thể nghiên cứu, ứng dụng công nghệ mới nhất để rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước tiên tiến. Công nghệ 4.0 cho phép sử dụng tiết kiệm tài nguyên, nâng cao năng suất lao động, nền kinh tế tiên tiến hơn, người thu nhập thấp cũng có khả năng tiếp cận sản phẩm, dịch vụ tốt hơn. Tuy nhiên, CMCN 4.0 cũng đặt ra cho Việt Nam những thách thức cần phải vượt qua, đó là:
(1) Tình trạng dư thừa lao động kỹ năng thấp trong các ngành nghề nông nghiệp, dệt may, giày dép... do việc ứng dụng công nghệ mới với robot hóa, tự động hóa thay thế lao động giản đơn. Theo dự báo của Tổ chức Lao động quốc tế 86% lao động trong ngành công nghiệp dệt may và giày dép ở Việt Nam phải đối mặt với nguy cơ thất nghiệp cao(2).
(2) Cùng với việc dư thừa lao động kỹ năng thấp, Việt Nam còn phải đối mặt với những thách thức về nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực ngành công nghệ thông tin (CNTT). Do hệ thống giáo dục hiện nay chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn; thiếu sự liên kết giữa nhà trường và doanh nghiệp nên thiếu nguồn nhân lực cấp cao, trong khi tình trạng thất nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp vẫn còn gần 50%(3).
(3) Thách thức về thị trường và khả năng thích ứng của các doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhiều doanh nghiệp nước ngoài có khả năng chiếm lĩnh thị trường, có mặt trong rất nhiều ngành nghề kinh tế, thậm chí doanh nghiệp nước ngoài thâu tóm hoàn toàn như Metro hay Big C. Các chuyên gia cho rằng, nếu không nắm bắt được xu thế kinh doanh 4.0, doanh nghiệp Việt có khả năng thua cuộc trên chính “sân nhà” hay lùi dần xuống những bậc thấp hơn, ít lợi nhuận hơn của các chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng toàn cầu(4).
(4) Với CMCN 4.0, Việt Nam còn phải đối mặt với thách thức gia tăng về khoảng cách thu nhập, khiến các vấn đề xã hội nảy sinh; biên giới mềm, quyền lực mềm; an ninh mạng, an ninh phi truyền thống, tội phạm công nghệ cao, xuyên quốc gia... nếu không chủ động kiểm soát, quản lý kịp thời thì nguy cơ mất an ninh chủ quyền đất nước là không hề nhỏ.
Vì thế, từ năm 2018, Đảng ta yêu cầu: “Phải sớm xây dựng chiến lược tiếp cận và chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0”(5). Nghị quyết 23 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngày 22-3-2018 về Chiến lược phát triển Công nghiệp Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến 2045 khẳng định: Việt Nam phải “tận dụng hiệu quả lợi thế của nước đi sau trong công nghiệp hóa, đặc biệt là CMCN 4.0 để có cách tiếp cận, “đi tắt, đón đầu” một cách hợp lý trong phát triển các ngành công nghiệp(6).
CMCN 4.0 mang lại cơ hội lớn cho Việt Nam có thể rút ngắn quá trình CNH, HĐH bằng cách “đi tắt, đón đầu”, phát triển công nghệ cao hơn. Việt Nam cần sớm ứng dụng công nghệ số, gắn với ứng dụng các sản phẩm của CMCN 4.0; khiến cho khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao có thể trở thành 3 đột phá chiến lược, là đòn bẩy để tái cấu trúc nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng. Vì thế, tuy là một nước đi sau, nhưng Việt Nam hoàn toàn có thể rút kinh nghiệm các nước và “đi tắt, đón đầu” có hiệu quả.
Ông Justin Wood - Giám đốc khu vực châu Á của Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) - cho rằng: Việt Nam là nền kinh tế rất nổi bật với dân số gần 100 triệu người với nhân khẩu học rất tích cực, đang ở trong giai đoạn dân số vàng, tầng lớp trung lưu phát triển rất nhanh. “Do đó, cơ hội để hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế số nói riêng cũng như các lĩnh vực khác nói chung là rất lớn”(7).
2. Quan điểm và mục tiêu
Trên cơ sở phân tích sâu sắc tình hình thế giới, trong nước về CMCN 4.0, Nghị quyết 52-NQ/TW Bộ Chính trị đã khẳng định quyết tâm chiến lược với nhiều điểm nhấn quan trọng.
Về quan điểm chỉ đạo, Nghị quyết nêu: (1) Chủ động, tích cực tham gia cuộc CCN4.0 là yêu cầu tất yếu khách quan; là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách vừa lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, gắn chặt với quá trình hội nhập quốc tế; (2) Phải nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội để nâng cao năng suất lao động, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, hiệu lực, hiệu quả quản lý xã hội; (3) Phải đổi mới tư duy về quản lý kinh tế, quản lý xã hội, xây dựng, hoàn thiện thể chế cho phù hợp; Và (4) Phát huy tối đa các nguồn lực, bảo đảm đủ nguồn lực cho việc chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0(8).
Các quan điểm chỉ đạo nêu trên, phản ánh nhận thức sâu sắc của Đảng ta về thời đại mới được mở ra bởi những những thành tựu vĩ đại mà con người đạt được trong quá trình nhận thức và cải tạo thế giới. Bước đột phá về hàng loạt công nghệ lõi, khiến cuộc CMCN 4.0 đã vượt xa các cuộc cách mạng trước đó, bởi nó không chỉ nối dài cánh tay của con người, mà điều quan trọng hơn là giải phóng lao động trí óc của con người, đưa trí tuệ của con người lên nấc thang mới - “siêu trí tuệ” bằng công nghệ AI. Bởi vậy, các phạm trù “chủ động, tích cực...; nắm bắt kịp thời...; đổi mới tư duy...; phát huy tối đa nguồn lực... là những điểm nhấn cực kỳ quan trọng để Việt Nam “đi tắt, đón đầu” trong chiến lược phát triển trong thời đại 4.0.
Về mục tiêu, Nghị quyết đã nêu 3 mục tiêu tổng quát: (1) Cần “tận dụng có hiệu quả các cơ hội do cuộc CMCN 4.0 đem lại để thúc đẩy quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với thực hiện các đột phá chiến lược và hiện đại hoá đất nước”; (2) Phải “phát triển mạnh mẽ kinh tế số; phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học-công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao”; Và (3) “Nâng cao chất lượng cuộc sống, phúc lợi của người dân; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường sinh thái”(9).
Ba mục tiêu nêu trên có vai trò quan trọng hàng đầu trong bối cảnh sự nghiệp đổi mới của nước ta tuy đạt được những thành tựu quan trọng có ý nghĩa lịch sử, nhưng sau hơn 30 năm nguồn lực và hệ động lực cho phát triển đất nước đang có dấu hiệu chậm lại cần phải được bổ sung bằng nguồn lực mới từ cuộc CMCN 4.0, bởi chỉ CMCN 4.0 mới tạo ra bước đột phá mới cho sự nghiệp phát triển đất nước. Vì thế, có chuyên gia cho rằng: Việt Nam cần quyết liệt tham gia CMCN 4.0 với tinh thần “bây giờ hoặc không bao giờ” có thể “bắt kịp, đi cùng và vượt lên” trong hệ thống kinh tế thế giới(10).
Và 11 mục tiêu cụ thể cho các giai đoạn:
Giai đoạn 1, từ nay đến năm 2025, với 4 mục tiêu: (1) Duy trì xếp hạng về chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc 3 nước dẫn đầu ASEAN. Xây dựng được hạ tầng số đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN; Internet băng thông rộng phủ 100% các xã. (2) Kinh tế số chiếm khoảng 20% GDP; năng suất lao động tăng bình quân trên 7%/năm. (3) Cơ bản hoàn thành chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội. Và (4) thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN trong xếp hạng chính phủ điện tử. Trong đó có ít nhất 3 đô thị thông minh tại 3 vùng kinh tế trọng điểm (Bắc, Trung, Nam)”.
Giai đoạn 2, từ năm 2025 đến năm 2030, với 5 mục tiêu: (1) Duy trì xếp hạng về chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) thuộc nhóm 40 nước dẫn đầu thế giới. (2) Mạng di động 5G phủ sóng toàn quốc; mọi người dân được truy cập Internet băng thông rộng với chi phí thấp. (3) Kinh tế số chiếm trên 30% GDP; năng suất lao động tăng bình quân khoảng 7,5%/năm. (4) Hoàn thành xây dựng Chính phủ số. (5) Hình thành một số chuỗi đô thị thông minh tại các khu vực kinh tế trọng điểm phía Bắc, phía Nam và miền Trung; từng bước kết nối với mạng lưới đô thị thông minh trong khu vực và thế giới.
Giai đoạn 3, tầm nhìn đến năm 2045 với 2 mục tiêu cụ thể: (1) Việt Nam trở thành một trong những trung tâm sản xuất và dịch vụ thông minh, trung tâm khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo thuộc nhóm dẫn đầu khu vực châu Á; (2) có năng suất lao động cao, có đủ năng lực làm chủ và áp dụng công nghệ hiện đại trong tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh(11).
Với hệ mục tiêu, từ tổng quát đến cụ thể cho từng giai đoạn, Nghị quyết 52 của Bộ Chính trị đã khẳng định quyết tâm chiến lược của toàn Đảng, toàn dân ta đưa Việt Nam vào TOP các quốc gia sáng tạo (Makein Việt Nam). Trước đó, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại Hội nghị thượng đỉnh kinh doanh Việt Nam (VBS) ngày 13-9-2018, cho rằng: “Việt Nam không đặt tham vọng là người giỏi nhất, nhưng muốn là bạn của những người giỏi nhất trong nền kinh tế toàn cầu. Việt Nam có khát vọng thành quốc gia thịnh vượng và đủ tự tin làm điều đó”(12).
Được biết, trên thế giới cho đến nay đã có nhiều nước xây dựng chiến lược CMCN 4.0 với các tên gọi khác nhau như: “Industry 4.0” của Đức; “Liên minh Internet công nghiệp” của Mỹ; “iKorea 4.0” của Hàn Quốc; “Made in China 2025” của Trung Quốc; “Kết nối mạng với các nhà máy” của Nhật Bản(13)... Việt Nam đã bỏ lỡ 3 cuộc CMCN trước đây nhưng nay không thể bỏ lỡ cuộc CMCN lần này. Nếu chúng ta không đón được làn sóng của CMCN 4.0 có thể làm cho nhiều ngành, nghề biến mất, với nhiều lao động bị thất nghiệp... vì đây là cuộc cách mạng “tất yếu” mà con người chỉ có thể chọn cách tham gia hoặc bị loại khỏi cuộc chơi.
CMCN 4.0 ở Đức họ lấy mục tiêu phát triển công nghiệp làm trọng tâm (Industry 4.0), Nhật Bản hướng tới Xã hội 5.0 lấy con người làm trung tâm (Society 5.0), Hàn Quốc hướng tới Kinh tế sáng tạo (Creative Economy), Trung Quốc đặt mục tiêu sản xuất sản phẩm, hàng hóa mang thương hiệu quốc gia (Made in China), Singapore hướng tới Quốc gia thông minh (Smart Nation)... Đối với Việt Nam, với 8 chủ trương, chính sách mà Nghị quyết 52 của Bộ chính trị đề ra là định hướng rất quan trọng để bắt kịp CMCN 4.0, qua đó tạo bước đột phá về công nghệ, năng suất, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Vì thế, trong Nghị quyết 52, sau khi đưa ra định hướng Bộ Chính trị đã giao cho “Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo xây dựng và triển khai Chiến lược quốc gia về CMCN 4.0; ban hành, triển khai Đề án chuyển đổi số quốc gia và các đề án, chương trình, kế hoạch tham gia CMCN 4.0; chỉ đạo xây dựng trình cấp có thẩm quyền ban hành cơ chế, chính sách thử nghiệm có kiểm soát đối với các sản phẩm, mô hình, kinh doanh mới. Ưu tiên bố trí đủ nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ nêu trong Nghị quyết”(14).
Để đưa Nghị quyết 52-NQ/TW sớm đi vào cuộc sống, ngày 3-10-2019, Ban Kinh tế Trung ương phối hợp cùng các bộ, ngành tổ chức Diễn đàn cấp cao và Triển lãm quốc tế về công nghiệp 4.0 với chủ đề “Chủ trương và chương trình hành động của Việt Nam chủ động tham gia CMCN 4.0”. Hội thảo đã tập trung vào 5 chủ đề chính là: ngân hàng thông minh; thành phố thông minh; sản xuất thông minh, năng lượng thông minh và kinh tế số. Đây là sự kiện quốc tế được tổ chức với mục đích: công bố các chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước Việt Nam về chủ động , tích cực tham gia cuộc CMCN 4.0.
3. Định hướng chủ trương, chính sách
Với các chủ trương, chính sách: (1) “Đổi mới tư duy, thống nhất nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội”; (2) “Hoàn thiện thể chế tạo thuận lợi cho chủ động tham gia cuộc CMCN 4.0 và quá trình chuyển đổi số quốc gia”; (3) “Chính sách phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu”; (4) “Chính sách phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo quốc gia”; (5) “Chính sách phát triển nguồn nhân lực”; (6) “Chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên”; (7) “Chính sách hội nhập quốc tế”; (8) “Chính sách thúc đẩy chuyển đổi số trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội”(15). Việt Nam coi chủ động tham gia tích cực có hiệu quả vào cuộc CMCN 4.0 là nhiệm vụ trọng tâm; nội dung cốt lõi là phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nhà nước ưu tiên chuyển giao và ứng dụng công nghệ mới; phát huy vai trò của mặt trận Tổ quốc, xây dựng cơ chế hợp tác giữa Nhà nước với doanh nghiệp và các đoàn thể xã hội.
Việc hoàn thiện pháp luật, trước hết là những pháp luật liên quan đến khởi nghiệp, sáng tạo, trí tuệ nhân tạo, công nghệ số, bảo đảm an ninh, chống tiêu cực; xây dựng cơ chế quản lý mới phù hợp với môi tường số và mô hình tiến tiến của thế giới có tính đến không gian và thời gian thử nghiệm. Chủ động tham gia vào các khuôn khổ pháp lý khu vực và toàn cầu để phát triển kinh tế số, tiến tới kết nối với khu vực ASEAN và quốc tế.
Triển khai băng thông rộng chất lượng cao trên phạm vi toàn quốc; xây dựng và phát triển đồng bộ hạ tầng dữ liệu quốc gia; hình thành hệ thống trung tâm dữ liệu quốc gia, kết nối vùng và địa phương đồng bộ và thống nhất. Xây dựng hạ tầng thanh toán số quốc gia khai thác có hiệu quả hạ tầng mạng lưới viễn thông để triển khai các dịch vụ thanh toán cho người dân với chi phí thấp; hoàn thiện cơ chế, chính sách thúc đẩy mạnh mẽ thanh toán không dùng tiền mặt. Triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 30-NQ/TW, ngày 25-7-2018 của Bộ Chính trị về Chiến lược an ninh mạng quốc gia, tạo ra hệ sinh thái để người dân, doanh nghiệp và Chính phủ tăng cường ứng dụng.
Cơ cấu lại hệ thống nghiên cứu khoa học công nghệ công lập; nâng cao hiệu quả đầu tư, quản trị theo thông lệ quốc tế; áp dụng các cơ chế, chính sách đặc biệt, có tính đột phá đối với các trung tâm đổi mới sáng tạo; ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia làm nền tảng cho việc ứng dụng và phát triển các công nghệ cốt lõi của cuộc CMCN 4.0; hoàn thiện mô hình và cơ chế, chính sách để tạo sự phát triển đột phá đối với các khu công nghệ cao. Trên cơ sở các khu công nghệ cao Hòa Lạc (Hà Nội), Đà Nẵng và TP Hồ Chí Minh, phát triển các khu đô thị sáng tạo đạt đẳng cấp quốc tế.
Thực hiện đổi mới nội dung và chương trình giáo dục, đào tạo theo hướng phát triển năng lực tiếp cận, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường công nghệ liên tục thay đổi và phát triển; đưa vào chương trình giáo dục phổ thông nội dung kỹ năng số và ngoại ngữ tối thiểu; khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số; tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, thu hút, sử dụng nhân tài, nguồn nhân lực chất lượng cao; phát triển mạnh đào tạo nghề và hỗ trợ đào tạo kỹ năng cho chuyển đổi công việc.
Tập trung phát triển các ngành ưu tiên có mức độ sẵn sàng cao như: Công nghiệp công nghệ thông tin, điện tử - viễn thông; an toàn, an ninh mạng; công nghiệp chế tạo thông minh; tài chính - ngân hàng; thương mại điện tử; nông nghiệp số; du lịch số; công nghiệp văn hóa số; y tế; giáo dục và đào tạo. Ưu tiên nguồn lực cho triển khai một số chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về các công nghệ ưu tiên, trọng tâm là: công nghệ thông tin và truyền thông, cơ điện tử, công nghệ mới trong lĩnh vực năng lượng, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, điện tử y sinh.
Mở rộng và làm sâu sắc hơn hợp tác về khoa học, công nghệ với các đối tác, đặc biệt là các nước đối tác chiến lược có trình độ khoa học công nghệ tiên tiến, đang đi đầu trong cuộc CMCN 4.0. Chủ động tham gia mạng lưới đổi mới sáng tạo toàn cầu; đẩy mạnh thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực từ nước ngoài và các đối tác quốc tế cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp sáng tạo, chuyển giao công nghệ. Hoàn thiện luật pháp, chính sách về đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo hướng nâng cao tiêu chuẩn công nghệ, khuyến khích hình thức liên doanh và tăng cường liên kết, chuyển giao công nghệ giữa doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp FDI.
Tiên phong thực hiện chuyển đổi số mạnh mẽ trong các cơ quan đảng, Quốc hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội bảo đảm thống nhất, kết nối liên thông và đồng bộ. Xây dựng cơ sở dữ liệu số của Chính phủ và các cấp chính quyền, tạo điều kiện để mọi công dân có thể cập nhật thông tin cần thiết về hoạt động của bộ máy nhà nước. Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thu thập, quản lý dữ liệu và giao dịch trên nền tảng internet ở các cơ quan nhà nước. Chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đáp ứng yêu cầu của cuộc CMCN 4.0; chuẩn hoá và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp.
__________________
Bài đăng trên Tạp chí Lý luận số 1-2020
(1), (8), (9), (11), (14), (15) Toàn văn Nghị quyết của Bộ Chính trị về Cách mạng công nghiệp 4.0, https://vietnamnet.vn.
(2), (3) Thách thức đổi mới cơ cấu nguồn nhân lực cho CMCN 4.0, https://dantri.com.vn.
(4) Nếu không bắt nhịp với CMCN 4.0, doanh nghiệp Việt sẽ thua trên “sân nhà”, http://thoibaotaichinhvietnam.vn .
(5) Cách mạng công nghiệp 4.0: Tiếp cận đúng để tránh nguy cơ tụt hậu, http://daidoanket.vn
(6) Nghị quyết về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, https://thuvienphapluat.vn
(7) Cách mạng công nghiệp 4.0: ASEAN đang hướng về Việt Nam, http://tapchitaichinh.vn
(10) Nguyễn Chí Dũng: Công nghiệp 4.0, bây giờ hoặc không bao giờ, https://www.vietnamplus.vn.
(12) Việt Nam muốn làm bạn với những người giỏi nhất, https://vnexpress.net.
(13) Trung Quốc và những bước tiến đáng gờm về công nghệ, http://vov.vn. Đại tá Nguyễn Nhâm

Thứ Tư, 10 tháng 7, 2019

TOÀN VĂN THÔNG CÁO TẠI KỲ HỌP 37 CỦA UBKTTW

Trong hình ảnh có thể có: 3 người, mọi người đang ngồi và trong nhà
Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã xem xét kỷ luật và đề nghị kỷ luật nhiều cán bộ ở cấp Trung ương và địa phương.
Từ ngày 2-4/7, tại Hà Nội, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã họp kỳ 37. Ông Trần Cẩm Tú, Bí thư Trung ương Đảng, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương chủ trì kỳ họp. Tại kỳ họp này, Ủy ban Kiểm tra (UBKT) Trung ương đã xem xét, kết luận một số nội dung sau:
1. Kiểm tra khi có dấu hiệu vi phạm đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh Đồng Nai
- Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh Đồng Nai đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ và quy chế làm việc; thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra nhiều vi phạm, khuyết điểm trong hoạt động điều tra, xử lý các vụ án, vụ việc; trong công tác quản lý, sử dụng vũ khí, đất đai, tài chính, tài sản và công tác cán bộ; để nhiều cán bộ, chiến sĩ bị xử lý hình sự.
- Đại tá Huỳnh Tiến Mạnh, Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công an tỉnh, Thiếu tướng Nguyễn Văn Khánh, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Giám đốc Công an tỉnh chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh; Đại tá Trần Thị Ngọc Thuận, Phó Bí thư Đảng ủy và các ông là Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Giám đốc, gồm: Đại tá Ngô Minh Đức, Đại tá Lý Quang Dũng, Đại tá Nguyễn Văn Kim, Đại tá Nguyễn Xuân Kim cùng chịu trách nhiệm về những vi phạm, khuyết điểm của Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh và trách nhiệm cá nhân trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được phân công.
- Qua kiểm tra đối với Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh, UBKT Trung ương nhận thấy, ông Hồ Văn Năm, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Nội chính Tỉnh ủy Đồng Nai đã vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc và các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước trong việc lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Trong thời gian giữ cương vị Bí thư ban cán sự đảng, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, ông Hồ Văn Năm chịu trách nhiệm chính về những vi phạm, khuyết điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh trong việc giải quyết một số vụ án hình sự.
Vi phạm của Ban Thường vụ Đảng ủy Công an tỉnh Đồng Nai và các cán bộ nêu trên đã gây hậu quả rất nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng và các cơ quan bảo vệ pháp luật, gây bức xúc trong xã hội, đến mức phải xem xét, thi hành kỷ luật.
2. Xem xét, thi hành kỷ luật Ban cán sự đảng Bộ Giao thông Vận tải (GTVT) và một số cá nhân về các vi phạm, khuyết điểm đã được kết luận tại kỳ họp 35 của UBKT Trung ương
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo các ông: Nguyễn Văn Công, Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ GTVT, Phạm Viết Muôn, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ, Trần Ngọc Thành, nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Khối Doanh nghiệp Trung ương, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam; thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách hai ông Ủy viên Ban cán sự đảng, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Ngọc Đông, Nguyễn Nhật và ông Nguyễn Ngọc Huệ, nguyên Bí thư Đảng ủy, nguyên Chủ tịch Hội đồng thành viên Tổng Công ty Hàng hải Việt Nam.
UBKT Trung ương đề nghị Ban Bí thư xem xét, thi hành kỷ luật Ban cán sự đảng Bộ GTVT nhiệm kỳ 2011 – 2016 và ông Nguyễn Hồng Trường, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Thứ trưởng Bộ GTVT.
3. Xem xét, thi hành kỷ luật ông Vũ Văn Ninh, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ
Trong thời gian giữ cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, ông Vũ Văn Ninh có vi phạm, khuyết điểm trong việc quyết định chủ trương thực hiện cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước tại các cảng Quy Nhơn, Quảng Ninh trái với kết luận của Bộ Chính trị. Trong thời gian giữ cương vị Bí thư Ban cán sự đảng, Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản lý Bảo hiểm xã hội Việt Nam, ông Vũ Văn Ninh đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát, để xảy ra vụ việc gây thiệt hại lớn tiền của Nhà nước, nhiều cán bộ, đảng viên liên quan bị xử lý hình sự trong vụ án kinh tế Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho Công ty Cho thuê tài chính II (ALC II) vay tiền.
Vi phạm của ông Vũ Văn Ninh là nghiêm trọng, ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức đảng và cá nhân ông. Căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm, UBKT Trung ương đề nghị Bộ Chính trị xem xét, thi hành kỷ luật đối với ông Vũ Văn Ninh.
4. Xem xét, thi hành kỷ luật ông Đỗ Thế Nhữ, nguyên Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, nguyên Phó Bí thư Ban cán sự đảng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh và ông Nguyễn Đức Luyện, nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Ủy viên Ban cán sự đảng, nguyên Phó Chủ tịch UBND tỉnh, nguyên Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Đắk Nông về trách nhiệm liên quan đến các vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự đảng UBND tỉnh Đắk Nông trong công tác giao đất, giao rừng, cho thuê đất, cho thuê rừng, quản lý, bảo vệ rừng đã được kết luận tại kỳ họp 32 của UBKT Trung ương.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo đối với ông Đỗ Thế Nhữ và ông Nguyễn Đức Luyện.
5. Xem xét, thi hành kỷ luật ông Nguyễn Mạnh Cường, nguyên Phó Giám đốc Sở Y tế tỉnh Đắk Nông
Trong thời gian giữ cương vị Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Nông, ông Nguyễn Mạnh Cường đã thiếu trách nhiệm, buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo, thiếu kiểm tra, giám sát, để xảy ra một số vi phạm, khuyết điểm trong tổ chức thực hiện Dự án đầu tư xây dựng Bệnh viện Đa khoa tỉnh và trong đầu tư mua sắm, quản lý, sử dụng trang thiết bị y tế, gây thiệt hại ngân sách nhà nước, ảnh hưởng xấu đến uy tín của tổ chức đảng.
Xét nội dung, tính chất, mức độ, hậu quả vi phạm; căn cứ quy định của Đảng về xử lý kỷ luật đảng viên, UBKT Trung ương quyết định thi hành kỷ luật cảnh cáo ông Nguyễn Mạnh Cường.
6. Cũng tại kỳ họp này, UBKT Trung ương đã xem xét kết quả giám sát đối với một số cấp ủy, tổ chức đảng và giải quyết khiếu nại kỷ luật đảng đối với 02 trường hợp./.

Thứ Ba, 25 tháng 6, 2019

Mỹ: TÀU DÂN QUÂN BIỂN TRUNG QUỐC CÓ HẦM ĐẠN, THƯỜNG HOẠT ĐỘNG Ở TRƯỜNG SA

Trong hình ảnh có thể có: đại dương, bầu trời, ngoài trời, nước và thiên nhiên
Bộ Quốc phòng Mỹ vừa cảnh báo trong báo cáo mới rằng lực lượng dân quân biển tỉnh Hải Nam của Trung Quốc nhận được trợ cấp đáng kể để hoạt động thường xuyên ở khu vực quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.
Cảnh báo trên nằm trong báo cáo Diễn biến an ninh và quân sự liên quan CHND Trung Hoa năm 2019 do Bộ Quốc phòng Mỹ trình cho quốc hội nước này, theo tờ The Philippine Star ngày 24.6. Trong tài liệu, Lầu Năm Góc cảnh báo ở Biển Đông, lực lượng dân quân biển (PAFMM) của Trung Quốc giữ vai trò quan trọng trong các hoạt động nhằm giúp Bắc Kinh đạt được mục tiêu chính trị mà không phải gây ra xung đột vũ trang.
Trong đó, đơn vị PAFMM của tỉnh Hải Nam được tổ chức chuyên nghiệp nhất và thường xuyên nhận được nguồn trợ cấp lớn để mở rộng hoạt động tới khu vực Trường Sa. Tài liệu mới của Lầu Năm Góc chỉ ra chính quyền Hải Nam đã ra lệnh đóng 84 tàu cá dân quân biển cỡ lớn với thân tàu được gia cố và hầm chứa đạn. Ngoài ra, phần lớn các thành viên PAFMM Hải Nam là cựu quân nhân và được trả lương riêng.
Cũng theo báo cáo, nhiều tàu PAFMM được huấn luyện và hỗ trợ hải quân cùng hải cảnh Trung Quốc trong những nhiệm vụ bao gồm cả giám sát và do thám, hỗ trợ hậu cần, tìm kiếm và cứu hộ.
Báo cáo mới của Lầu Năm Góc được The Philippine Stardẫn lại sau khi tàu cá Trung Quốc đâm chìm tàu cá Gem-Ver 1 của Philippines gần bãi Cỏ Rong trên Biển Đông tối 9.6 rồi bỏ mặc 22 ngư dân trước khi họ được một tàu Việt Nam cứu.
Giám đốc Chương trình sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm nghiên cứu quốc tế và chiến lược (CSIS, Mỹ) Gregory Poling mới đây nhận định vụ đâm tàu Gem-Ver 1 là “kết quả tất yếu của việc Bắc Kinh điều hàng trăm tàu cá làm lực lượng dân quân”. Ông Poling còn cảnh báo vụ đâm tàu tương tự sẽ tái diễn vì có hàng trăm tàu dân quân Trung Quốc hoạt động ở khu vực Trường Sa, theo The Philippine Star.
Văn Khoa

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2019

NGOẠI TRƯỞNG PHILIPPINES LOCSIN PHÁT BIỂU TẠI LIÊN HỢP QUỐC: Chúng tôi mãi mãi biết ơn, mãi mãi mắc nợ đối tác chiến lược Việt Nam

Trong hình ảnh có thể có: 2 người
Ngoại trưởng Philippines nói nước này "mãi mãi mắc nợ" Việt Nam vì đã cứu 22 thuyền viên tàu cá bị đâm chìm trên Biển Đông.
"Thủy thủ đoàn 22 người Philippines đã bị bỏ rơi trên biển cho đến khi một tàu Việt Nam vớt họ lên. Chúng tôi mãi mãi biết ơn, mãi mãi mắc nợ đối tác chiến lược Việt Nam vì hành động nhân từ và đàng hoàng này", Ngoại trưởng Philippines Teodoro Locsin ngày 17/6 nói.
Lời cảm ơn Việt Nam được Ngoại trưởng Locsin đưa ra khi phát biểu tại lễ kỷ niệm 25 năm ngày Công ước Liên Hợp Quốc về Luật biển (UNCLOS) có hiệu lực tại trụ sở Liên Hợp Quốc ở New York. Ông đề cập tới vụ tàu cá Gemvir-1 của Philippines bị tàu Trung Quốc đâm chìm ở bãi Cỏ Rong thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam đêm 9/6.
Theo lời kể của các thuyền viên, tàu Trung Quốc sau khi đâm chìm tàu Gemvir-1 đã tắt đèn tháo chạy khỏi hiện trường, bỏ mặc những ngư dân lênh đênh trên biển suốt nhiều giờ. 22 ngư dân Philippines chỉ được cứu thoát nhờ một tàu cá của ngư dân tỉnh Tiền Giang, Việt Nam.
Đề cập đến sự cố này, Ngoại trưởng Locsin nhấn mạnh các thành viên UNCLOS và Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) phải thực thi nghĩa vụ của mình theo Công ước nhằm trợ giúp những người gặp nạn trên biển.
"Cứu người gặp nạn là nghĩa vụ được mọi người và mọi chính phủ công nhận", ông nói. "Việc bỏ rơi người gặp nạn sẽ là trọng tội, đặc biệt khi chính chúng ta gây ra sự hiểm nguy đó và hoàn toàn không quan tâm đến việc cứu người chỉ vì an toàn của bản thân".
Đại sứ quán Trung Quốc tại Philippines hôm 14/6 ra thông báo thừa nhận tàu Trung Quốc đã đâm tàu Gemvir-1, nhưng cho rằng đây chỉ là tai nạn trong lúc tàu Trung Quốc bị một nhóm tàu Philippines truy đuổi. Thông báo cũng nói rằng thuyền trưởng Trung Quốc muốn cứu nhóm ngư dân Philippines nhưng sợ bị bao vây và chỉ rời đi khi thấy họ được một tàu cá Philippines khác cứu.
Hải quân Philippines và các thuyền viên trên tàu Gemvir-1 bác bỏ tuyên bố này, khẳng định tàu Trung Quốc cố tình đâm tàu Philippines và nhóm ngư dân gặp nạn đã được tàu cá Việt Nam cứu. "Nếu không có tàu Việt Nam, chúng tôi đã chết", thuyền trưởng tàu Gemvir-1 khẳng định.
Tàu cá Việt Nam đã cứu các ngư dân Philippines được xác định là tàu của ông Ngô Văn Thẻng, 54 tuổi, ở thị xã Gò Công, Tiền Giang. Các ngư dân Việt Nam sau khi cứu 22 thủy thủ Philippines đã cho họ ăn cơm, mỳ tôm, ủ ấm và cho mượn bộ đàm để họ liên lạc với tàu các Philippines khác.
nguồn: sưu tầm tổng hợp vnexpress.net

Thứ Tư, 23 tháng 1, 2019

Đẩy mạnh tuyên truyền về quy định nêu gương



(TG) - Nêu gương là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng. Cùng với những quy định trước đó, việc Ban Chấp hành Trung ương khóa XII ban hành Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng” được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình ủng hộ.

 
Tại Hội nghị Trung ương 8 khóa XII, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận và thống nhất cao việc ban hành Quy định số 08-QĐi/TW về “Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng” (Quy định 08). Trung ương khi thảo luận đã nhận định rằng, trong những năm qua, nhờ có những chủ trương, quy định đúng đắn, kịp thời nên ý thức, trách nhiệm của cán bộ, đảng viên từng bước được nâng lên. Việc thực hiện các chủ trương, quy định nêu gương của Đảng đã góp phần tăng cường kỷ luật, kỷ cương của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng. Đó là Quy định số 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về những điều Đảng viên không được làm; Quy định số 101 của Ban Bí thư khóa XI về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp; Quy định số 55 của Bộ Chính trị khóa XII về một số việc cần làm ngay để tăng cường vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên và nội dung này cũng được thể hiện ở nhiều nghị quyết, chỉ thị, quy định khác của Đảng. Tuy nhiên, kết quả thu được còn hạn chế, chưa đạt yêu cầu đề ra kể cả về mặt nhận thức, kiểm tra, đôn đốc. Cho nên việc thực hiện nêu gương của cán bộ, đảng viên ở một số cơ quan, đơn vị, địa phương trong thời gian qua còn hình thức, chưa đi vào thực chất, chưa tạo được sự chuyển biến tích cực, mạnh mẽ.
Quy định 08 có 4 điều. Điều 1 thể hiện tính phổ quát của vấn đề, đó là tất các cán bộ, đảng viên đều phải gương mẫu thực hiện Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quy chế… của Đảng đã ban hành. Điều 2 quy định 8 điểm cụ thể mà các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải gương mẫu thực hiện, thể hiện trách nhiệm của mình đối với Đảng, đối với Tổ quốc, đối với nhân dân, đối với chức trách, nhiệm vụ được giao. Điều 3 quy định 8 điểm mà các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương phải nghiêm khắc với mình và kiên quyết đấu tranh với những biểu hiện đó trong Đảng, trong xã hội. Điều 4 quy định về tổ chức thực hiện nêu rõ trách nhiệm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cấp ủy, tổ chức Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội; Ban Tổ chức Trung ương và Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc triển khai thực hiện Quy định. Nguyên lý xây dựng Quy định là “có xây, có chống và xây trước, chống sau”. Điểm cốt lõi của Quy định là “cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu” và nhấn mạnh trước hết là Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương.
Để triển khai thực hiện Quy định 08, cần tập trung làm tốt một số nội dung sau:
Một là, cần tổ chức học tập, quán triệt Quy định 08 thực sự có hiệu quả để nêu cao tinh thần trách nhiệm, nâng cao nhận thức của cấp ủy đảng các cấp, của cán bộ, đảng viên. Ngày 23-11-2018, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã tổ chức Hội nghị nghiên cứu, quán triệt các nghị quyết, kết luận, quy định của Hội nghị Trung ương 8 tại Hội trường Quốc hội và 73 điểm cầu trên phạm vi cả nước. Phát biểu bế mạc Hội nghị, đồng chí Võ Văn Thưởng, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương yêu cầu các tổ chức đảng, các tỉnh, thành ủy trực thuộc Trung ương bố trí thời gian hợp lý, thỏa đáng để thảo luận chương trình, kế hoạch hành động, sát hợp với tình hình cụ thể của địa phương, đơn vị. Đồng thời khi triển khai thực hiện Quy định này cần tiếp tục thực hiện Quy định số 101 và Quy định số 55, trong đó chú trọng việc nêu gương của các đồng chí cấp ủy.
Hai là, đẩy mạnh việc tuyên truyền Quy định 08 đối với cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Cần không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền, phát huy sức mạnh tổng hợp của các binh chủng của công tác tuyên truyền, như: tài liệu, tuyên truyền miệng, tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng để Quy định 08 sớm đi vào cuộc sống. Chú trọng những “tấm gương sống” gắn với thực tiễn của đất nước như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Các báo, đài cần mở chuyên mục để triển khai thực hiện Quy định 08; phản ánh kịp thời các cán bộ, đảng viên nêu gương sáng trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Thực tế cho thấy, cơ quan báo chí có vai trò rất quan trọng trong tuyên truyền một cách sinh động những cán bộ, đảng viên đi đầu nêu gương, tạo sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với quần chúng. Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam và các đài địa phương có thể mở các cuộc tọa đàm, giao lưu xoay quanh các nội dung về triển khai thực hiện Quy định 08.
Ba là, các cấp ủy đảng cần phải hết sức coi trọng giáo dục tinh thần nêu gương gắn với giáo dục liêm, chính. Trong điều kiện lịch sử mới, mở cửa và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có chức, có quyền, luôn đứng trước những cám dỗ. Điều này đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo luôn phải rèn luyện, trau dồi đạo đức; phải cảnh giác như “đi trên băng mỏng”, như “đứng trước vực sâu” mới có thể vượt qua sự trói buộc của công danh, lợi lộc, để không bị ham muốn dụ dỗ và không bị vật chất đánh bại. Việc giáo dục này là một nhiệm vụ khó khăn, thường xuyên, lâu dài, xuyên suốt quá trình xây dựng Đảng. Trong điều kiện cơ chế, chính sách, pháp luật thiếu đồng bộ và có nhiều sơ hở chưa đủ răn đe, trừng phạt, nếu tinh thần nêu gương và liêm, chính không được thấm sâu và tự giác thực hiện, khi có chức, có quyền, cán bộ, đảng viên dễ bị tha hóa, biến chất. Vì thế, bên cạnh việc giáo dục, phải tăng cường kiểm tra, giám sát sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ tổ chức của Đảng mới từ manh nha, từ trong trứng nước để kịp thời ngăn chặn.
Bốn là, cán bộ giữ chức vụ càng cao thì càng phải gương mẫu nêu gương cho cấp dưới. Vì vậy, khi các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực sự gương mẫu, trong sáng về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, tiêu biểu cho trí tuệ và đạo đức của toàn Đảng cũng góp phần tích cực xây dựng đội ngũ cán bộ mà Nghị quyết số 26 của Ban Chấp hành Trung ương đề ra. Song với tinh thần mọi đảng viên đều phải bình đẳng trước Điều lệ, các nguyên tắc, quy định của Đảng, chúng ta cũng phải kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm trên tinh thần đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Dù biết rằng, xử lý đồng chí của mình là một việc khó khăn, nhạy cảm, nhưng vì sự tồn vong của Đảng, của chế độ, các cấp ủy đảng, chính quyền phải kiên quyết thực hiện theo pháp luật như thông điệp đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã gửi gắm “kỷ luật một vài người để cứu muôn người”.
Năm là, triển khai Quy định 08 chính là Đảng đã đề ra cam kết chính trị với chính mình và với toàn Đảng, toàn dân. Do đó, trong triển khai, phải thấm nhuần phương châm “có xây, có chống và xây trước, chống sau” theo tinh thần: lấy cái đẹp dẹp cái xấu, lấy cái tích cực đẩy lùi cái tiêu cực để góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng.
Sáu là, tăng cường tuyên truyền việc các cơ quan chức năng phối hợp, kiểm tra, giám sát để Quy định 08 thực sự đi vào cuộc sống. Cần phải đổi mới và nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, để không chỉ phát hiện những tổ chức đảng, những cán bộ, đảng viên thực hiện chưa tốt Quy định 08 mà cần phát hiện những nhân tố mới, những điển hình tiên tiến, cung cấp cho các cơ quan báo chí tuyên truyền kịp thời, tạo sự lan tỏa trong Đảng, trong xã hội theo phương châm “xây trước, chống sau”. Việc triển khai thực hiện có hiệu quả Quy định 08 sẽ góp phần thiết thực vào việc hoàn thành sứ mệnh cao cả của Đảng, lãnh đạo nhân dân xây dựng đất nước Việt Nam “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội.
Bùi Thế Đức