1. Quân đội cách mạng, từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân phục vụ
“Bộ đội cụ Hồ” là danh hiệu cao quý và tình cảm thân thương nhất mà
Nhân dân ta trao tặng cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Trong
mọi sự tôn vinh thì tôn vinh của nhân dân dành cho những gì và những ai mà
nhân dân tin cậy, yêu mến, tự hào là điều cảm động, sâu sắc, bền bỉ nhất.
Đảng, Bác Hồ và Quân đội ta là những đối tượng nổi bật nhất mà Nhân dân ta
tôn vinh với tất cả niềm tin và tình cảm sâu sắc nhất của mình.
Đảng Cộng sản Việt Nam, đảng cách mạng chân chính do Bác Hồ sáng
lập, rèn luyện đã phấn đấu hy sinh vì độc lập của Tổ quốc, vì tự do cho dân tộc
và hạnh phúc của mọi người dân. Ngoài lợi ích cao cả và thiêng liêng đó, Đảng
ta không có bất cứ một lợi ích nào khác. Bản chất và mục đích đó của Đảng là
làm cho quan hệ máu thịt giữa Đảng với dân, giữa dân với Đảng gắn bó thân
thiết, không tách rời, tạo nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của Đảng, của
dân tộc và nhân dân. Đảng vì dân, Đảng lãnh đạo toàn dân trong sự nghiệp
cách mạng giải phóng dân tộc, vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội nhưng
suốt đời, Đảng tự nguyện làm đầy tớ trung thành và công bộc tận tụy của dân.
Nhân dân cảm nhận sâu sắc hơn ai hết điều đó từ chính cuộc đời và số phận của
mình. Nhờ có Đảng dẫn đường, nhờ sự dũng cảm, chiến đấu, hy sinh của lớp
lớp thế hệ cán bộ, đảng viên mà Nhân dân ta từ tình cảnh nô lệ trở thành người
tự do và làm chủ. Hiếm có đảng cách mạng nào như Đảng ta được nhân dân tin
tưởng, tự hào, gọi là đảng của mình. Đó là tài sản tinh thần vô giá mà Đảng
phải ra sức gìn giữ và phát huy trong mọi điều kiện, hoàn cảnh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dâng hiến trọn đời mình vì nước, vì dân.
Không chỉ vậy, Người còn hóa thân vào dân tộc, vào nhân dân. Với tất cả sự
ngưỡng mộ và tự hào, mỗi người Việt Nam và bạn bè quốc tế, từ em nhỏ tới
người già đều gọi Người với hai tiếng trìu mến: “Bác Hồ”. Trong lễ Độc lập,
mừng cách mạng Tháng Tám thành công, mừng nước Việt Nam Dân chủ cộng
hòa ra đời, ngày 02/9/1945, khi đọc “Tuyên ngôn độc lập”, áng “thiên cổ hùng
văn bất hủ” của dân tộc, Người hỏi: Đồng bào nghe tôi nói có rõ không? Đó
không chỉ là tình cảm gần gũi, thân thiết của Bác Hồ đối với đồng bào mình,
mà còn là sự tôn trọng, kính trọng nhân dân của vị lãnh tụ mang tầm vóc “Đại
trí - Đại nhân - Đại dũng”, suốt đời vì dân, gần dân và được toàn dân tin yêu
nhất. Từ hồi ấy, trên báo chí đã viết “Hồ Chủ tịch - Vị cha già của dân tộc” với
tất cả lòng ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ bởi vô cùng tin yêu, bởi “Hồ Chủ tịch là
hình ảnh của dân tộc, lương tri của thời đại” .
Người dân Nam Bộ tự hào bởi cái tên đẹp nhất của Người:
Tháp Mười đẹp nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ
Nhà thơ Bảo Định Giang đã nói đến tấm lòng tin tưởng của đồng bào
đối với Bác Hồ, khi mượn lời các bà má tiễn con tập kết ra Bắc:
Con ra thưa với Cụ Hồ
Đất này chỉ một ngọn cờ vàng sao
Quân đội ta được Bác Hồ đặt tên là “Quân đội nhân dân Việt Nam”.
Đó là quân đội cách mạng do đảng cách mạng lãnh đạo. Ngoài việc bảo vệ Tổ
quốc, bảo vệ nhân dân - thời chiến cũng như thời bình, Quân đội ta không có
lợi ích nào khác. Nguồn gốc sức mạnh của Quân đội ta là từ Nhân dân. Nhân
dân nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ, giúp đỡ cho bộ đội ngày một trưởng thành,
vượt qua mọi khó khăn, đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược.
Bác Hồ đã nói tới Vệ quốc quân: “Vệ quốc quân là quân đội của nhân
dân, để bảo vệ đồng bào, giữ gìn Tổ quốc” . Đồng thời căn dặn: “Đối với nhân
dân, nhân dân là nền tảng, là cha mẹ của bộ đội” 3 . Vì vậy, trên thế giới, trong
thế kỷ XX hiếm có quân đội nước nào như Quân đội nhân dân Việt Nam.
Chuẩn bị cho Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cách mạng
Tháng Tám, năm 1945, Quân đội ta mới ra đời mà tiền thân là “Đội Việt Nam
tuyên truyền giải phóng quân” với 34 chiến sĩ đầu tiên, vũ khí thô sơ, hoạt động
trong rừng núi, nhờ được nhân dân cưu mang mà đã làm nên chiến công ngay
từ đầu. Trong chỉ thị thành lập đội quân cách mạng đó, Hồ Chí Minh nhấn
mạnh, bộ đội phải làm công tác tuyên truyền trong dân chúng, dựa hẳn vào dân
mà gây dựng lực lượng. Do đó, quân đội có chức năng tuyên truyền, buổi đầu
phải chú trọng chính trị, “chính trị trọng hơn quân sự”, “người trước súng sau”,
có dân giúp đỡ thì rồi sẽ có súng, đánh thắng ngay từ trận đầu để gây thanh thế.
Các đội viên của đội đã cùng với người đội trưởng do đích thân Bác chọn cử là
Đồng chí Võ Nguyên Giáp, lúc đó mới 33 tuổi, đọc mười lời thề danh dự trước
khi xuất quân, đánh trận Phai Khắt, Nà Ngần, rồi tới đỉnh cao là Điện Biên
Phủ. Sau này, Ông trở thành Đại tướng, Tổng Chỉ huy các lực lượng vũ trang,
đồng cam cộng khổ với chiến sĩ, đánh thắng những đế quốc sừng sỏ nhất là
Pháp và Mỹ, trở thành một danh tướng huyền thoại, không chỉ là Dũng tướng,
mà còn là Nhân tướng, “Đại tướng của lòng dân”.
Quân đội ta, Bộ đội ta chưa đầy một tuổi (22/12/1944 - 02/9/1945) đã
làm nên cách mạng Tháng Tám cùng với lực lượng vĩ đại, yêu nước nồng
nàn, đó là Nhân dân.
Mới mười tuổi đầu, ở tuổi thiếu niên, Quân đội ta đã gây chấn động địa
cầu bởi Điện Biên Phủ ở Việt Bắc, đánh thắng kẻ thù xâm lược là thực dân
Pháp, một điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu cũ.
Quân đội ta còn làm nên một Điện Biên Phủ thứ hai, “Điện Biên Phủ
trên không”, 12 ngày đêm cuối năm 1972 tại Hà Nội, đánh bại B52 của Mỹ,
vượt qua mưa bom bão đạn, bảo vệ Thủ đô, bảo vệ đồng bào, đánh bại chủ
nghĩa thực dân kiểu mới, làm cho Hà Nội trở thành “Thủ đô của phẩm giá con
người”. Qua đó, Quân đội ta trưởng thành nhanh chóng với các quân chủng,
binh chủng, trang bị vũ khí hiện đại, chỉ huy mưu lược, chiến sĩ dũng cảm,
“cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh”, một quân đội mẫu mực trong quan hệ với
nhân dân, “quân với dân như cá với nước”.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quyết tâm giải phóng
miền Nam, bảo vệ miền Bắc, đồng bào và chiến sĩ hai miền Nam - Bắc đã lập
nên những chiến công hiển hách. Theo lời kêu gọi của Bác Hồ: Không có gì
quý hơn độc lập tự do! Quân dân ta ở hậu phương lớn đã hết lòng chi viện cho
tiền tuyến lớn, với tinh thần: “Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu
một người”, “tất cả vì miền Nam ruột thịt”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy
nhào”,… để “Bắc Nam sum họp một nhà”.
Đánh bại hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, đại thắng mùa Xuân năm 1975
với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí
Minh đã đứng vào hàng ngũ các dân tộc tiên phong trên thế giới chống chủ
nghĩa đế quốc, chống chủ nghĩa thực dân.
Làm nên lịch sử vẻ vang đó, Quân đội ta mới 30 tuổi.
Những mốc son chói lọi đó làm cho những trang sử vàng truyền thống
của Quân đội ta ngày thêm rạng rỡ. Từ các tướng lĩnh dạn dày kinh nghiệm
đến lớp lớp các chiến sĩ anh hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam đã thực
hiện xuất sắc lời dạy của Bác Hồ - Người cha thân yêu của các lực lượng vũ
trang: “Quân đội ta trung với Đảng, hiếu với dân, sẵn sàng chiến đấu, hy sinh
vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội. Nhiệm vụ nào cũng hoàn
thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”
nhấn mạnh: “Quân đội ta là quân đội của nhân dân. Trong thời kỳ kháng
chiến, quân đội thi đua giết giặc, để bảo vệ nhân dân. Hòa bình trở lại, quân
đội vừa lo học tập, vừa ra sức giúp nhân dân trong mọi việc” 5 . Nói tóm lại,
“Vì bộ đội luôn luôn ra sức phục vụ nhân dân, cho nên nhân dân thương yêu
bộ đội, coi như con em ruột thịt của mình” .
Một quân đội như thế nên Nhân dân ngợi ca “Bộ đội Cụ Hồ” là một lẽ
tự nhiên. Đó là niềm tự hào, niềm hạnh phúc của Quân và Dân ta.
2. “Bộ đội Cụ Hồ” - Những hàm nghĩa và ý nghĩa
“Bộ đội Cụ Hồ”, từ lời lẽ giản dị, rất đỗi chân thành và tự nhiên mà
Nhân dân ta dành cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam. Không
chỉ là một khái niệm khoa học, cao hơn thế, “Bộ đội Cụ Hồ” còn là một biểu
tượng cao quý, một giá trị của văn hóa chính trị, văn hóa đạo đức và văn hóa
quân sự Việt Nam hiện đại.
“Bộ đội Cụ Hồ” cất lên từ tiếng nói của người dân - mộc mạc, chất
phác trong đời thường, qua năm tháng thời gian đã kết tinh và lắng đọng trong
tâm hồn, tình cảm của đồng bào và chiến sĩ trong suốt chiều dài lịch sử của sự
nghiệp dựng nước và giữ nước thời đại Hồ Chí Minh, đỉnh cao của mọi thời
đại của dân tộc Việt Nam.
“Bộ đội Cụ Hồ” đã từ lâu trở thành một điển hình nghệ thuật trong
nguồn cảm hứng vô tận của các văn nghệ sĩ trong và ngoài quân đội, trong
mọi loại hình, thể loại sáng tác văn học nghệ thuật ở nước ta.
“Bộ đội Cụ Hồ” còn trở thành đối tượng nghiên cứu khoa học, từ khoa
học quân sự đến lý luận chính trị, khoa học xã hội và nhân văn,… Nhiều
tướng lĩnh, học giả nghiên cứu lịch sử quân sự, học thuyết quân sự Việt Nam
đã viết nên những tác phẩm đặc sắc luận chứng về sức mạnh Việt Nam, về
phẩm chất cao quý của Quân đội nhân dân Việt Nam… nhận thấy ở “Bộ đội
Cụ Hồ” những điều kỳ diệu, tạo nên chiến công của quân và dân, lập nên
công trạng của những anh hùng, dũng sĩ.
“Bộ đội Cụ Hồ” nhắc nhở chúng ta mãi mãi nhớ ơn Chủ tịch Hồ Chí
Minh, người sáng lập ra quân đội cách mạng. Người đã từng dạy cán bộ,
chiến sĩ phải luôn luôn khắc sâu trong tâm khảm “Nhân dân là cha mẹ của bộ
đội”, phải “trung thành tuyệt đối với Đảng”, “giữ trọn lòng Trung - Hiếu với
Nước, với Dân”, “ăn ở sao cho được lòng dân”, “không làm điều gì trái ý
dân”, “không tơ hào cái kim sợi chỉ của dân”.
Sinh thời, Bác Hồ rất mực quan tâm, chăm sóc, rèn luyện cán bộ, chiến
sĩ quân đội. Bác là hình ảnh của dân tộc, là người cha thân yêu của lực lượng
vũ trang, là hiện thân tình thương yêu của nhân dân đối với bộ đội, bởi cuộc
sống của Bác đã trọn vẹn, toàn vẹn ở trong dân, ở trong cuộc sống nhân dân.
Đến khi viết “Di chúc” để lại cho đời, Bác vẫn gửi muôn vàn tình thương yêu
cho “toàn thể bộ đội” . Cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta thường xuyên thực hành
lối sống, lẽ sống “tận trung với nước, tận hiếu với dân” cũng chính là để xứng
đáng với tình thương yêu của Bác, làm yên lòng Bác ở chốn vĩnh hằng.
Nói đến Bác Hồ, đến Cụ Hồ là nói đến một con người viết hoa, toàn
tâm toàn ý vì dân, vì nước và cả nhân loại; một biểu tượng cao quý của khát
vọng tự do, của ý chí và nghị lực phi thường đấu tranh cho hòa bình, thống
nhất, độc lập, dân chủ để cho dân tộc phú cường và nhân dân hạnh phúc.
Người còn tiêu biểu cho một triết lý sống cao thượng, tuyệt đối không màng
danh lợi, cả đời ở ngoài vòng danh lợi, là lãnh tụ tối cao của dân tộc, nhưng
chỉ coi mình “như một người lính vâng lệnh quốc dân đồng bào ra trận”. Đến
lúc từ biệt thế giới này, “không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng
không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa” 8 . Tâm nguyện này của
Người là bài học lớn về rèn luyện nhân cách cho cán bộ, chiến sĩ Quân đội ta,
trước đây cũng hiện nay.
Với tất cả những biểu hiện ấy, có thể nói, mọi hàm nghĩa và ý nghĩa
của “Bộ đội Cụ Hồ” đều quy tụ vào phẩm chất của người chiến sĩ, quân nhân
cách mạng, của đội quân bách chiến bách thắng “từ nhân dân mà ra”, “vì nhân
dân mà chiến đấu và phục vụ”. Đội quân ấy là Quân đội nhân dân Việt Nam
xứng đáng với dân tộc Việt Nam anh hùng, Đảng Đảng Cộng sản Việt Nam
quang vinh và Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Xét đến cùng, phẩm chất ấy là
đạo đức cần, kiệm, liêm chính, chí công vô tư; là sự trung thực và khiêm tốn,
lòng trung thành và đức hy sinh; là trí tuệ, mưu lược, lòng dũng cảm, sự hội tụ
cả “đức và tài”; là kỷ luật tự giác, nghiêm minh, bởi “Kỷ luật là sức mạnh của
quân đội”. “Bộ đội Cụ Hồ” có giá trị và ý nghĩa của một thông điệp lịch sử.
Đối với các thế hệ từ tướng lĩnh, cán bộ, chiến sĩ quân đội đó là phải đánh
thắng cả giặc ngoại xâm lẫn giặc nội xâm, chiến thắng chính bản thân mình
trước mọi cám dỗ đời thường để mãi mãi xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”.
Có một thực tế cảm động là, Nhân dân yêu thương cán bộ, chiến sĩ
quân đội, gọi là “Bộ đội Cụ Hồ”. Nhân dân còn coi cán bộ, chiến sĩ là “con
của Cụ Hồ”. Và, Bác Hồ cũng không ít lần mượn lời của nhân dân về “Bộ
đội Cụ Hồ” để giáo dục, động viên, nhắc nhở bộ đội phải luôn biết phát huy
ưu điểm, khắc phục khuyết điểm, từ những điều nhỏ nhặt nhất.
Dưới đây là những minh chứng:
Tháng 10/1954, trong bài “Bộ đội đánh thắng giặc lụt”, Bác viết: Quân
đội nhân dân chẳng những khi cầm súng đánh giặc mới lập được công mà
trong thời kỳ hòa bình cũng lập được công. Năm nay (1954), nước sông to
hơn mọi năm trước. Ở Liên khu III nhiều chỗ đê vỡ. Bộ đội ta ở những vùng
đó đã ra sức cùng nhân dân chống lụt, giữ đê. Đã có những hành động oanh
liệt và anh hùng tập thể như ở Vụ Bản (Nam Định) và Lý Nhân (Hà Nam).
Khi thấy đê sạt, cống vỡ, toàn thể đại đội L và trung đội M liền nhảy xuống
nước, nắm chặt tay nhau, dùng thân mình làm con đê sống. Nước lên ngập cổ,
các chiến sĩ vẫn kiên quyết giữ vững để đơn vị khác và nhân dân có thời gian
chữa lại đê. Nhiều đơn vị không quản mưa to gió lớn, làm việc suốt ngày
đêm. Có đơn vị khéo kết hợp giúp dân giữ đê với việc tuyên truyền đường lối
chính sách của Đảng và chính phủ. Kết quả là đã cứu được hàng vạn mẫu
ruộng, lại thắt chặt tình quân dân. Đồng bào Nam Định đã đặt câu hát thắm
thiết để tặng bộ đội:
“Dù rằng công việc khó khăn,
Các anh bộ đội cũng lăn mình vào.
Dù cho nguy hiểm thế nào,
Các anh bộ đội chẳng bao giờ chùn.
Một lòng vì nước, vì dân,
Các anh xứng đáng là con Bác Hồ!”
Đó là một giải thưởng rất quý báu cho Bộ đội ta.
Ngày 19/11/1954, trong bài viết “Nhân dân với quân đội”, Bác nhấn
mạnh: Quân đội ta là quân đội nhân dân. Cho nên nhân dân rất yêu thương bộ
đội. Trong tám, chín năm kháng chiến, Quân đội ta ăn gió, nằm sương, xông
pha bom đạn, hy sinh quên mình vì nước vì dân. Hòa bình trở lại, Quân đội ta
giữ gìn trật tự an ninh, bảo vệ tài sản công cộng, tính mạng, tài sản của nhân
dân, làm trụ cột giữ vững hòa bình, bảo vệ Tổ quốc. Bởi vì thương yêu quân
đội, đồng bào ta ghi tạc những công trạng to lớn của quân đội mà cũng chú ý
đến việc nhỏ ngày thường của Quân đội ta. Thí dụ: Ở Thủ đô Hà Nội, Tiểu
đội đồng chí Quế đã cảnh giác, bắt được tên ăn trộm xe đạp, lấy xe trả lại cho
người bị mất cắp. Đồng chí Vinh, đồng chí Cẩm nhặt được nhẫn vàng và
khuyên vàng đã tìm hỏi trả lại cho nhân dân. Nhiều tiểu đội giúp đồng bào
làm vệ sinh, dạy hát cho thiếu nhi, giúp các lớp bình dân học vụ. Những việc
làm đó làm cho đồng bào càng cảm động và kính phục bộ đội.
Nhưng có một vài đồng chí và cán bộ ra đường không được chỉnh tề,
cũng làm cho đồng bào chú ý như đội mũ lệch, đánh tú lơ khơ ngoài đường,
đồng bào nhầm tưởng là đánh bạc. Đồng bào chú ý như thế là đúng vì đồng
bào muốn cho Quân đội ta gương mẫu về mọi mặt. Nhiều nhân sĩ quốc tế qua
lại nước ta, điều mà họ để ý nhất, cho họ ấn tượng trước hết là kỷ luật của
Quân đội ta. Vậy, rất mong các đồng chí chiến sĩ và cán bộ ta hết sức cẩn trọng
trong mọi cử chỉ, để cho thế giới thấy rằng, “Quân đội Cụ Hồ có khác!” .
Ngày 25/11/1954, trong bài “Tuyên truyền”, Bác Hồ chỉ rõ: Mỗi người
yêu nước phải làm tuyên truyền. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động của chúng ta có
thể là một công tác tuyên truyền. Ví dụ: mới đến chỗ đóng quân, cơ quan N
đặt kế hoạch chia tổ, phân công vận động nhân dân,… Cán bộ, chiến sĩ và bà
con trong phố đã đoàn kết, thân mật như anh em một nhà. Nghe nói Bộ đội ta
rất trong sạch, một ông Hoa Kiều muốn thử xem có thật như thế không? Mỗi
khi cán bộ, chiến sĩ đến mua gì thì ông cứ thoái tiền thừa. Lần nào các chiến
sĩ ta cũng đều trả lại tiền thừa cho ông ta. Sau đó, tự ông ta tuyên truyền khắp
phố: “Bộ đội Cụ Hồ liêm chính thật” 12 .
Đặc biệt, Bác viết bài báo “Bộ đội làm dân vận” ngày 20/6/1955. Bác
nêu chuyện ở Hạc Trì (Phú Thọ), bộ đội giúp dân tăng gia sản xuất, chống
đói, làm nhà cho dân. Bộ đội ăn cơm độn ngô để dành gạo giúp dân, làm cho
dân rất cảm động. Ở Suối Pao (vùng Tả ngạn) là vùng toàn Hoa Kiều, suốt
thời gian kháng chiến bị Tây chiếm đóng, mới được giải phóng. Địch tuyên
truyền nói xấu ta nên bấy giờ, thấy bộ đội đến, đồng bào tỏ ý nghi ngại. Bằng
những việc làm thiết thực để giúp đồng bào như: Kiếm củi, làm vệ sinh, mua
bán công bằng, tôn trọng phong tục tập quán của dân. Dân hiểu rõ, hết nghi
ngờ, lại còn yêu quý bộ đội. Đem quà biếu. Bộ đội giữ kỷ luật, không nhận.
Đồng bào lại thắc mắc: Vì sao bộ đội không nhận? Sau ngày nào dân cũng tới
nghe bộ đội nói chuyện. Sự thực ấy làm dân nhận ra: Tây nói láo, bộ đội Việt
Nam tốt lắm! Khi bộ đội chuyển đi, họ luyến tiếc. Một cụ già nói: “Từ thuở
cha sinh mẹ đẻ, bây giờ tôi mới thấy có bộ đội tốt như Bộ đội Cụ Hồ!” . Qua
đó, Bác nhấn mạnh: “Đó là những kinh nghiệm tốt cho toàn thể bộ đội cũng
như cho toàn thể cán bộ ta: Nắm vững chính sách, làm đúng ý nguyện của
nhân dân, thì công tác dân vận nhất định thành công” .
Nêu ra một vài ví dụ trên để thấy được sự tinh tế và sâu sắc của Bác Hồ
trong phương pháp giáo dục cán bộ, chiến sĩ quân đội. Bác Hồ mượn lời của
dân, ý của dân để nói tới “Bộ đội Cụ Hồ” bởi Người rất mực khiêm tốn.
Để mãi mãi phát huy truyền thống, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, cán bộ
chiến sĩ trong quân đội, trong hoàn cảnh mới, điều kiện mới ra sức thực hiện
những lời dạy bảo ân cần của Bác, xây dựng quân đội thật trong sạch, làm
dân vận một cách mẫu mực, từ các vị tướng lĩnh, chỉ huy đến chiến sĩ, ra sức
tu dưỡng đạo đức, rèn luyện ý chí, bản lĩnh, sao cho “khó khăn nào cũng vượt
qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng”, vì Tổ quốc, vì Nhân dân phục vụ./.
GS- TS Hoàng Chí Bảo

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét